Trí Việt
Đối tác
Tìm kiếm
Hỗ trợ trực tuyến

Tổng quan ngành thép Việt Nam - P1

 

VIỆT NAM đang đứng trước ngưỡng cửa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO có thể vào cuối năm nay. Đứng trước sân chơi lớn này thiết nghĩ VIỆT NAM  còn nhiều việc còn chưa được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng , các ngành công nghiệp của chúng ta nói chung và nghành  Luyện kim nói chung còn đang rất nhỏ bé và manh mún khó có thể cạnh tranh được trên sân chơi lớn này.

Ngành luyện kim của chúng ta đang đứng trước rất nhiều vấn đề cần giải quyết đó là thứ nhất cơ cấu các chủng loại thép trong nước con mất cân đối nghiêm trọng Hiện nay hầu hết các nhà máy luyện và cán thép của Việt Nam chỉ sản xuất thép thanh, thép cuộn, thép hình cỡ nhỏ và vừa mà chưa thấy có một nhà máy tầm cỡ nào sản xuất các mác thép chất lượng cao phục vụ cho các nghành cơ khí trong nước mà cụ thể là chiến lược nội địa hoá linh kiện ôtô và xe máy là một ví dụ. Trừ nhà máy thép cán nguội đầu tiên của Việt Nam ở Phú Mỹ (Bà Rịa-Vũng Tàu) công suất 205.000 tấn/năm mới đi vào sản xuất. Trong khi đó công suất cán thép các sản phẩm thép dài của Việt Nam đã lên tới 6 triệu tấn, nghĩa là gần gấp đôi nhu cầu. Trong khi công suất luyện phôi thép năm 2005 mới đạt 875.000 tấn. Tình hình dư thừa công suất so với nhu cầu cũng xảy ra với sản xuất ống thép và thép lá mạ ở Việt Nam. Năm 2006 có thêm một số nhà máy luyện thép lò điện đi vào sản xuất, nâng sản lượng phôi lên 1,5 triệu tấn/năm.

Dự báo, nhu cầu thép thanh và thép cuộn năm 2006 của Việt Nam là 3,8 triệu tấn, như vậy lượng phôi thép cần thiết cung cấp cho các nhà máy thép ở Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 2,5-2,6 triệu tấn/năm. Vì lượng nhập khẩu phôi lớn như vậy, nên việc chủ động định giá sản phẩm là khó khăn, phụ thuộc chính vào giá phôi thép thế giới đó là một bất lợi vô cùng lớn cản trở chúng ta trên con đương cạnh tranh . Ngay với nhà máy cán nguội, nguyên liệu là cuộn nóng cũng phải nhập khẩu 100%, nên giá sản phẩm được quyết định tới 80% là giá nguyên liệu đầu vào. Bên cạnh đó, quy mô nhà máy của Việt Nam là nhỏ bé, chỉ có 3 cơ sở là gang thép Thái Nguyên, thép miền Nam, Pomina có quy mô trên 0,5 triệu tấn/năm, còn hầu hết là 200-250 tấn/năm nên rất khó giảm giá thành do chi phí nguyên liệu, năng lượng, chi phí quản lý, năng suất lao động đều thua kém các nhà máy liên hợp công suất lớn (vài triệu tới chục triệu tấn/năm). Trong bối cảnh hội nhập, việc phấn đấu hạ giá thành, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm thép là rất khó khăn. Những nhà máy luyện và cán thép xây dựng sau năm 2000 do nhập thiết bị và công nghệ châu Âu (G7) nên có thể đạt các chỉ tiêu trung bình tiên tiến của các nước. Sức ép cạnh tranh  Sản phẩm luyện cán thép của Việt Nam là sản phẩm thép xây dựng carbon thông thường, là sản phẩm phổ thông, không có những yêu cầu kỹ thuật đặc biệt. Vì vậy khi tham gia cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu từ các nước, không thể dùng rào cản kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước. Ngành thép Việt Nam mới phát triển mạnh trong thời gian gần đây do các công ty Nhà nước và công ty tư nhân tham gia đầu tư vào ngành thép. Thời gian này, các công ty phải trả nợ các khoản vay ngân hàng khi đầu tư.
 
Trong cơ cấu giá thành sản phẩm một tấn thép có 20-25 USD là tiền khấu hao để trả nợ. Đây là điểm bất lợi cho các công ty thép Việt Nam khi phải cạnh tranh với các nước đã sản xuất thép nhiều năm và đã hết giai đoạn khấu hao. Với những khó khăn và thách thức nêu trên, ngành thép Việt Nam muốn tồn tại và phát triển trong bước đường hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, chắc chắn sẽ phải có những nỗ lực vượt bậc trong sản xuất kinh doanh của các công ty thép, đồng thời cũng phải có sự định hướng phát triển chính xác và sự chỉ đạo chặt chẽ của các cơ quan quản lý của Nhà nước. Ngành thép Việt Nam có điều kiện thuận lợi hơn một số nước trong khối ASEAN khi có nguồn quặng sắt, tuy trữ lượng không lớn nhưng nếu được khai thác và xử lý thích hợp chắc chắn sẽ thuận lợi hơn các nước phải nhập quặng sắt. Chúng ta có trữ lượng than antraxit, nếu áp dụng các công nghệ luyện kim thích hợp cũng tạo thế thuận lợi hơn nhiều nước. Ngoài ra, các nguyên liệu phụ trợ trong luyện kim hoàn toàn có thể tự đáp ứng trong nước. Nguồn nhân lực của Việt Nam dồi dào, giá nhân công thấp so với nhiều nước, lực lượng kỹ thuật và công nhân luyện kim đủ sức đáp ứng cho sự phát triển của ngành. Các công ty luyện kim Việt Nam cần có sự liên kết, hợp nhất để khắc phục tình trạng nhỏ lẻ, phân tán và để có đủ sức đầu tư cho các công nghệ hiện đại với quy mô kinh tế cạnh tranh với luyện kim nước ngoài. 

Ngoài ra, việc phấn đấu khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý sản xuất, giảm bớt lao động dư thừa để nâng cao năng suất lao động ở các nhà máy cũ, áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm vẫn là mục tiêu cụ thể và cấp thiết nhất của các công ty luyện kim của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.Ngoài ra chúng ta cũng phải từng bước đa dạng hoá sản phẩm đặc biệt là tiến tới nấu luyện ra các mác thép chất lượng cao để tạo tiền đề thúc đẩy nghành cơ khí chế tạo phát triển.

Trương Xuân Tiệp - luyenkim.net

 

Các bài viết khác
Nhà thép tiền chế
Thép kết cấu
Hệ thống mái lợp
Phụ Kiện

Trụ sở & nhà Máy: 4B, Khánh Bình, Tân Uyên, Bình Dương               ĐT: (0650)365 3080 - Fax: (0650) 365 3079           
Văn phòng TP. HCM: 386/15 Lê Văn Sỹ, P. 14, Q. 3, TP. HCM            ĐT: (08)3526 0218 - Fax: (08) 3526 0219
Email: info@trivietsteel.com.vn                                                     
MST: 3700570307                                                 
 
 

  Lượt truy cập : 1,548,431
Sim so dep  Đang truy cập : 3
Thiết kế website : FinalStyle - Tư vấn giải pháp: MarNET